 HUẾ TÍNH TÂM-NGOẠN
Lời bạt: Tâm Ngoạn là cháu 72 đời của Lê lợi, người Huế tên thật là Lê văn Ngoạn, bài Huế Tính xin mến tặng cho Hội Huế, Hội các Mệ và tất cả những người nghĩ rằng mình là người Huế, người Huế, những ai yêu thương người Huế, làm dâu con người Huế.
Đây không phải là một tuyển tập mà cũng không phải là một truyện ngắn, nhưng chỉ là một đoạn được trích ra từ tập Huế Tính, mà trong đó đã nói lên khá đầy đủ bản tính đặc biệt của một số người, mà họ không sao tránh được một mẫu số chung, một môi trường của nó và thoát thai từ đó: Người Huế........ Trước khi viết về Huế Tính, tôi cũng xin nói rỏ để tránh ngộ nhận. Người Huế mà chúng ta muốn đề cập ở đây là người có mang một nội dung "HUẾ - TÍNH" có nghĩa là phải được sinh ra ở Huế, lớn lên và sống ở đó, hoặc ít ra sống trong một gia đình người Huế từ nhỏ, nói tiếng Huế và ăn các món ăn Huế mà đó chỉ là điều kiện ắt có, tuy nhiên điều kiện đủ là phải có Huế Tính, từ quan điểm đó thì không phải ai ở Huế cũng là người Huế. Hơn nữa phải hiểu Huế Tính không phải là loại tính xấu hay tốt mà nó là một đặc tính của người Huế. Mà đặc tính nầy là do phong thổ cung cách và lịch sử mang lại mà đặc tính đó thì rất là phong phú, nghiệt ngã mà thân thưong, hiền hoà mà cay đắng, nên thơ mà dồn dập, từ đó đã tạo nên người Huế với những nét rất đặc thù nếu đem so với các dân địa phương khác, mà như trên đã nói sự khác biệt nầy thì quá rỏ nét và phong phú bao la đến nổi không cần phải có thời gian để nhận ra, nó gần như lộ liễu hiển nhiên. Còn vấn đề thứ hai tốt hay xấu là tùy theo cách sử dụng của mỗi người và quan điểm của từng người. Huế chỉ là một thành phố của tỉnh Thừa thiên dưới thời Ngô đình Diệm, Thừa thiên là một tỉnh thuộc miền Trung VN, miền trung còn nhiều tỉnh khác. Nói đến Huế, chúng ta ai ai cũng hình dung ra một địa danh thật hấp dẫn với thật nhiều huyền thoại biến cố và thiên tai, một đia thế hiểm trở mà thơ mộng với một thành phố kỳ bí một thời, qua các triều đại vua chúa. Về phong thổ địa dư thì Huế được bao quanh với những đồi núi trùng trùng điệp điệp, vì thế mà ngay cả khí hậu cũng mang tính địa phương, về phía Nam lại còn cách trở bởi đèo Hải-Vân ăn ra tận biển, phía đông khoảng 10 cây số đường chim bay là bải biển Thuận An, Huế là nơi còn lưu lại những chứng tích của một thời phong kiến độc tôn chuyễn tiếp qua chế độ Cộng hòa với nhiều lăng tẩm mộ bia dưới đời nhà Nguyễn. Vua gia long lên ngôi năm 1802, sau đó 60 năm dưới đời vua Tự Đức 1862 Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ. Hòa ước Nhâm Tuất 1862 ra đời nhượng cho Pháp 3 tỉnh Định tường Gia định và Biên Hòa và sau đó 5 năm chúng ta mất nốt 3 tỉnh miền Tây "12 năm sau hòa ước Giáp Tuất" để mở đầu cho thời kỳ quê hương rơi vào tay giặc Pháp. Từ bối cảnh chính trị cũng như từ những phong thổ địa phương, và nhất là chính sách chia để trị của người Pháp mà mục đích chỉ để gây phân hóa kỳ thị và chia rẽ giữa các dân tộc thuộc địa, mà đó chính là chính sách căn bản của tất cả những đoàn quân xâm luợc mà thời nào cũng thế, trong chính sách chia để trị, nước ta bị chia làm ba phần với những thể chế chính trị khác nhau, ngay cả việc đi lại người Pháp cũng cố tình gây khó khăn, cố tình hạn chế vì thế các vùng khác nhau của đất nước sau gần 100 đô hộ, người ở ba miền xem nhau như người ngoại quốc, kỳ thị và ghét bỏ nhau vì mức sống quá chênh lệch, cả trình độ và cả văn hoá, ngay tục lệ sinh hoạt ba miền dần dần cũng khác biệt, mà đây là điểm khó khăn và cũng là điểm son của ông Diệm trong việc định cư hơn 2 triệu người Bắc di cư vào Nam mà không gây nên một phân hoá kỳ thị đáng kể nào trong xã hội hồi đó, đồng thời cũng nói lên tính đoàn kết của dân tộc ta. Trong chính sách chia để trị, người Pháp đặt miền Nam dưới chế độ thuộc địa, miền bắc thì bảo hộ, miền Trung thì vừa Bảo Hộ vừa thuộc địa, với một ông vua bản xứ bù nhìn, mà thật ra Pháp rất coi thường vua quan Việt Nam chúng ta, điều dễ hiểu là chính vua của nó mà chúng còn chặt đầu đừng nói là vua VN. Trong bối cảnh và vấn nạng nầy đã ảnh hưởng rất nặng trên tâm tính của người Huế vì rằng: Dưới thời Pháp thuộc và các vị vua của ta, chính vì để lấy lòng nên chính sách được áp dụng ở đây mềm mỏng và mị dân hơn, nên nhớ các cuộc thi Hưong, thi Hội và thi Đình của triều đình nhà Nguyễn bị bải bỏ từ năm 1864 taị Nam kỳ, 1915 tại bắc kỳ, trong khi đó tại triều đình mãi tới năm 1918 mới thực sự hủy bỏ. Chính vì đối xử khác biết mà ở Huế có nhiều cơ sở về giáo dục, ăn hơi theo kiểu Tây nhiều hơn, giới trí thức nghĩa là có một chút tiếng Pháp, khi nói chuyện với nhau thường hay chêm vào những chử tiếng Tây như kiểu con em học sinh tiểu học và trung học của chúng ta bây giờ, chúng vẫn thường hay nói trộn kiểu đó, ngược lại khi có trình độ cao hơn, chúng chỉ nói tiếng Anh lúc cần và thường nói nguyên câu chứ không như cơm trộn khoai mì, anh văn kiểu đầu đường xó chợ lề đường sòng bạc. Cũng chính vì quyền lợi theo Pháp, khả năng học vấn, những người có học làm quan như Tri phủ, Tri Huyện, ông Nghè, ông Tổng, ông Tú, nào là phú nông bổng lộc triều đình, vì đất ngày xưa là của Vua, vua cho bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu, từ những quyền lợi đó mà có những phú nông đất cò bay thẳng cánh, và đồng thời cũng có bần nông ngay cả thuế thân cũng không đóng nổi, cũng từ lối tổ chức xã hội như thế mà đẻ ra rất nhiều giai cấp và rồi khi thời thế thay đổi, các giai cấp đó đã trộn lẫn với nhau để sinh ra tâm tính của người Huế mà tục gọi là Huế Tính, mà tâm tính khác lạ nầy thì rất là rỏ nét như đã nói ở trên vì thế không cần phải quá chú ý hoặc mất thời gian để nhận ra. Thành phố Huế là nơi đã một thời đa mang một quá khứ vàng son lộng lẫy của các thời đại Vua chúa, nhưng với một nội dung bên trong cũng đầy nghẹn ngào cay đắng, Huế là nơi phong thổ nghèo nàn đất cày lên sỏi đá, nhưng người Huế lại sống trong đất thần kinh, nói chung Huế tuy nghèo xơ xác nhưng lại rất là sang, mà sự đời càng nghèo lại càng muốn tỏ ra sang mà mâu thuẫn là ở chổ đó, ở Huế dù có nghèo rách mồng tơi áo vá cả trăm mãnh ra đường vẫn phải mặc áo dài, những bà khốn khổ bán cơm hến, đậu hũ, đội rổ xôi hẩm trên đầu bán rong, đều phải mặc áo dài đi tha thướt mồ hôi nhễ nhãi tội nghiệp, đã thế đôi khi lại còn thêm một ít chất xám trong đầu từ chương khoa bảng do đó mà thường phải có lối sống màu mè kiểu cách rởm rơ. Chính vì quá khứ vàng son như đã nói ở trên, mà Huế vẫn còn mang nhiều danh xưng như: Phú văn Lâu ***** Đồi vọng Cảnh ***** Điện hòn Chén ***** Hồ tịnh Tâm ***** Đàn nam Giao v.v...... Các vị quan lại hồi đó đã cố tìm cho hết những danh xưng thật đẹp để tặng cho Huế, và cũng chính từ những thắng cảnh và những danh xưng đó đã tạo nên Huế có một phong cách Huế thơ Huế mộng, vừa trử tình vừa nghiệt ngã, đồng thời cảnh trí thiên nhiên cũng hòa cùng âm điệu với những chiều hanh nắng, những ngày mưa phùn phớt nhẹ lên mái tóc viền mi vừa thân thương vừa dịu dàng, người con gái Huế hồn nhiên nghiêng qua vành nón, những ngày nắng ấm tan trường, tà áo ấy đã điểm trắng một khung trời dọc hai bên bờ sông nằm vắt ngang thành phố, với những bàn tay nhỏ nhắn e lệ ấn lên viền nón, xoay theo chiều gió che mưa làm cho nhà thơ Huy Cận phải thổn thức qua các vần thơ. Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong ------------------------------------------------- Em đẹp bàn tay ngón ngón thon Em duyên đôi má nắng hoe tròn Em lùa gió biết vào trong tóc ------------------------------------------------ Dịu dàng áo trắng trong như suối Tỏa phất đôi hồn cánh mộng bay Những chiều lạnh ẫm chóng tối mưa rả rích âm ỉ, Huế với dòng sông Hương quanh năm lờ đờ trong vắt, với núi Ngự Bình hiền hòa không cây chim ngủ đất, của sông An cựu nắng đục mưa trong, với đàng Nam giao thẳng mà không bằng, với đồi Vọng cảnh thôn vĩ dạ chè cồn.....Huế còn có những giai điệu để ngâm thơ vịnh cảnh vui thú điền viên.
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao ---------------------------------------------------- Rượu đến gốc cây ta hãy nhắp Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao Huế cò có những gì hơn thế nữa, chứa đựng cả một tâm hồn làm xao xuyến nhà thơ Đông Hồ với nổi cảm xúc tuyệt vời qua bốn vần thơ. Dòng nước sông Hương chảy lặng lờ Ngàn thông núi ngự đứng như mơ Gió cầu vướng áo nàng tôn nữ Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ Đã thế Huế cò thật nhẹ, nên thơ và hoài cảm với những kỷ niệm dấu chân chim tuổi học trò, như những đóa hoa chứng liệu nở rộ trong lòng, gợi nhớ đeo đẳng cho dù sau nầy có đi bất cứ nơi đâu, kỷ niệm ấy vẫn hằng in xao xuyến ấp ủ một chút nắng chiều ngừng trôi, những cảm xúc vội vàng trôi nổi của tuồi trẻ, khao khát đáng yêu, trao cho nhau thật nhẹ, ngắm nước dòng hương tìm ánh mắt, cùng những ước mơ được một lần qua bài thật dễ thương (Chút tình gởi Huế) của Mạc phương Đình. Ba năm với Huế thời đi học Một mảnh tình con thật dễ thương Áo trắng theo em về Thượng tứ Đò ngang chung bến ngở quen đường Nhịp guốc Đông ba chiều chủ nhật Nội thành rẽ lối ngỏ hoang mang Ngắm nước dòng Hương tìm ánh mắt Xin chia một chút nắng sân trường Đồng Khánh ai chờ trăng bến củ Niềm riêng Quốc học dấu bâng khuâng Lặng giữ trăng thề hôn mái tóc Vùi chuông Thiên mụ gõ đêm sương Muốn hẹn nhưng lời không dám ngỏ Vời trông xa khuất bóng mây cuồng Lãng đãng chút tình mơ mộng ấy Dịu dàng như một sợi tơ trăng ---------------------------------------------------- Đặc biệt ở Huế khí hậu rất khắc nghiệt, thiên tai hạn hán quanh năm, vì thế củ khoai ở đây chỉ bằng ngón chân cái, con tôm ở Huế chỉ để người Sàigòn gọi là con tép, chỉ có ở Huế mới đẻ ra những món ăn tội nghiệp như cơm hến, đó là một trong những món ăn nghèo rách mồng tơi, gồm một chén cơm trắng trộn vào một ít hến nhỏ chỉ bằng mấy hạt tiêu trôi trôi bồng bền với nước luộc hến pha ít mắm ruốt làm bằng tép vớt ngoài cửa biển, đặc biệt lúc ăn còn phải nhai hết sức cẩn thận, đôi khi sắp nuốt xuống lại phải phun ra bị mẻ răng vì cắn phải cát, chị hến thì thường rất nhiều cát trong miệng của chị, ăn cơm hến cũng rất tội nghiệp trơ trẻn như kiểu nhắm mắt mà ăn, chỉ có ở Huế mới nghe nói đền những món ăn như cháo trắng mà người Bắc gọi là cháo hoa, ngày xưa những nhà phú nông điền chủ thường hay nấu cho dê hoặc cừu bị bệnh ăn khi chúng không thể ra đồng cỏ được, cháo trắng nầy được ăn với cá Bống thệ kho, hoặc bánh Đúc bánh Khọt ăn với mắm nêm làm bằng bột gạo bày bán giữa chợ, bánh Khọt cũng làm bằng bột gạo giả nhuyễn vắt thành từng cục xong nướng lên chứ không luộc như bánh Đúc. Ở Huế nhà nầy cách nhà kia thường chỉ là một vách ngăn hàng dậu mồng tơi, đó là một loại cây leo lá dày chứa nhiều nưóc vì thế về mùa mưa, lá mọc lên xanh um, khi cần nấu canh chỉ việc hái vào rửa sạch thêm tí muối, cá khô hoặc tép khô thế là đã có một món canh mồng tơi, những nhà nghèo không có gì để ăn, quanh năm suốt tháng chỉ ăn có một món canh mổng tơi vì thế mà lá lên không kịp, không còn đủ lá để che kín ngăn chia được với nhà hàng xóm, hái quá đến nổi rách nát cả tấm màng hàng dậu, vì thế mới có chử nghèo rách mồng tơi, nhà thơ Nguyễn Bính một nhà thơ có đặc điểm là trong lời thơ của ông có mang tính ca dao, ông đã từng diễn đạt tới hàng dậu mồng tơi qua bài "Người hàng xóm" Trong khi đó trong Nam thì ngược lại đất phì nhiêu, sông lạch chằng chịt cây trái quanh năm dư thừa. Đăc biệt ở miền Tây nhiều nhà phía trước là đường cái, sau lưng là sông đào có khi là nhà sàn nước chảy bên dưới quanh năm, mùa nuớc lũ nước chảy tràn lên, những chú cá ham chơi bị vướng trườn cả trên sàn gỗ sân sau nhà, người dân địa phương thấy thế cũng không thèm bắt, mùa dưa chỉ để chín rục đạp lấy hột, đó là chưa nói đến ruộng đồng bao la bát ngát, vì phong thổ địa lý và lịch sử quá khắc nghiệt như vậy mà đã tạo nên người Huế rất khác với người trong Nam. Cũng chỉ ở Huế mới nghe nói đến những loại cá tội nghiệp như cá Khoai, cá Gỗ. Cá Khoai là loại cá mềm rục không xương ăn rất dở, thân hình màu trắng trong hơi đục, đặc biệt không sống lâu được khi bị đánh bắt, nhìn vào chỉ thấy được hai con mắt màu đen, tròn và ngắn mềm như củ khoai, dân chài miền trong khi đánh phải loại cá nầy thì thả lại xuống biển vì họ không ăn mà cũng không bán được, còn cá Gỗ là loại cá làm bằng gỗ tạp, có hình thù như con cá, có khả năng thấm nước tốt được ngâm với nước mắm hoặc muối, khi ăn cơm chỉ được ngậm hoặc mút vào để rồi ăn với cơm, mà cơm thường là cơm độn. Người Huế với đầy Huế-Tính là người có một phong cách vừa thân thương vừa hờ hửng, vừa có vẽ quan tâm vừa không để ý, uyển chuyển và sâu sắc đặc biệt là hay nói nhiều, không hiểu nhận xét như vậy có được không nhưng nghĩ cho kỷ cũng nhiều người đồng ý như vậy, có lẽ lúc xưa người Huế ở gần cung đình nên việc ăn nói cũng bị hạn chế, dễ bị chụp mũ, thường phải đứng hàng giờ mà nghe mấy ông quan lại, Tri phủ, Tri Huyện ban huấn thị, vì thế sau nầy khi thời thế thay đổi họ phải nói cho bù lại nỗi ức chế ngày nào. Khi giao thiệp trong bất cứ việc gì, họ thường cố ý tạo cho người đối diện cảm nhận sự quan trọng của vấn đề cho dù đó chỉ là một việc không đâu vào đâu, đã thế người Huế thường có thói quen hết sức thận trọng cảnh giác lúc gặp nhau, và thường hay chấp trách những cái mà người miền trong có thể bỏ qua, đã thế họ thường hay rào trước đón sau tự vệ bốn bề, câu nệ, mặc dầu chả có ai tấn công họ. Ngưòi Huế với nhiều Huế-Tính đã thế còn thêm rảnh rổi thì thú vui của họ thường là bàn chuyện người khác, họ nhớ rành mạch từ đầu trên xóm dưới nói ra vẽ trên thông thiên văn dưới đạt địa lý ghê lắm lận, tưởng chừng như họ biết cả nốt ruồi nơi chổ kín của người ta. Đã thế người Huế với nhiều Huế-Tính thường rất bảo thủ, cho dù có sống ở Mỹ 30 năm nhưng người Huế cũng sống như kiểu mang cái nhà từ Huế qua hạ thổ CALI ăn cơm VN thở không khí Mỹ. Bản tính người Huế còn được diễn đạt qua câu. Quảng nam hay cải Quảng ngải hay co Bình định gay go Thừa thiên hốt hết (Thừa thiên là một tỉnh mà Huế là thành phố lớn nhất trong đó: Tỉnh Thừa thiên thành phố Huế) Người con gái Huế là tập hợp của một nội dung trong một nội dung, có em có thể nói vừa trong trắng trinh nguyên thánh thiện nhưng đồng thời cũng vừa hàm chứa một cái gì trong đó. Người con gái Huế đôi khi không chỉ tỏ tình bằng ánh mắt, bằng nụ cười núp sau vành nón mà còn cả cái bí hiểm giựt mồng núp sau cái tà áo dài trắng, cái hiện thực trần truồng phơi bày nổi rạo rực quyến rủ ức chế bị dồn ép bởi lễ giáo và xả hội, mà tất cả những đặc tính đó đã tạo nên sức quyến rũ kỳ diệu làm chao nghiêng biết bao kẻ mày râu. "Học trò trong Quảng ra thi thấy cô gái Huế chân đi không rời" Với một hình thức và một nội dung mâu thuẫn, một lối nói thiếu trung thực quyến rủ kiểu cách đầy bí hiểm nổi loạn, vì thế những chàng trai trong Nam khi ra tới đất Thần kinh thường bị quấn hút theo thú đau thương với một cảm nhận về cô gái Huế qua câu đầy ý nghĩa của nhà văn Phan Nhật Nam. " Cái mông người con gái Huế sau cái tà áo dài trắng" Người con gái Huế là thế, đôi khi có một lối nói thật nhẹ nhàng yểu điệu trâm anh thế phiệt, một lối nói thụ động quyến rủ tưởng chừng như chưa bao giờ biết nói không, biết từ chối, một lối nói tối nghĩa trừu tượng nhưng lại chang chứa một sự thầm kín nổi loạn bên trong, tâm hồn thì lãng mạng, nhưng lễ giáo màu mè kiểu cách lại ngăm cấm, vì thế bên trong luôn luôn là một bãi chiến trường ẫm ướt tênh hênh và thát loạn, tiềm ẩn một nét đa dâm giựt mồng lả lơi khiêu gợi không sao diễn tả nổi. Người Huế khi gặp nhau cho dù chỉ là sơ giao họ cũng chào hỏi tay bắt mặt mừng ra vẽ ghê lắm lận, cũng dạ dạ bẩm thưa, có khi lễ phép quá đáng làm cho người thân sơ mắc cỡ, người Huế cũng rất kỳ thị và giai cấp, nhất là trong gia đình thân thuộc bà con và họ hàng, vì những điểm đặc dị đó đã tạo nên kiểu cách của những người chỉ biết chú trọng đến hình thức, sự chú trọng đến hình thức làm cằn cỗi nội tâm, làm băng họai tâm hồn, làm trơ tráo nét mặt, ở nhà dù ăn rau muống luộc, ra đường cũng phải mặc áo gấm, áo dài, sự chú trọng về hình thức cũng được thể hiện qua bửa cơm gia đình, trên bàn thường thấy bày ra rất nhiều chén dĩa, tuy nhiên điều đáng nói là trên các dĩa đó được bày ra rất ít đồ ăn, thường được cắt ra từng lát mỏng sắp xếp cho thật kiểu cách, thật màu mè, thật rởm rơ. Ngoài ra người Huế rất hiếu học, vì thế trong nền đệ nhị cộng hòa tính theo tỉ số sĩ quan người gốc Huế rất đông, điều nầy dễ hiểu ở Huế không có gì chơi cả, không có gì để giải trí, lôi cuốn học sinh, sinh viên, vì thế chỉ còn một con đường là học. Chính vì điểm nầy mà ở Huế xuất phát rất nhiều kẻ sĩ, những kẻ sĩ nầy thường hay thích nói những câu triết lý dạy đời nghe rất khó chịu, đã thế kẻ sĩ lại nghèo túng bất mãn đầy thù hận ganh ghét, não lúc nào cũng căng phồng, bụng thì rỗng tuếch, khi não làm việc thì bụng đòi ăn, khi bụng đòi ăn thì não phê bình, chất xám không sao làm chủ được dạ dày không thỏa mãn được tham vọng, người Huế với đầy Huế tính, không phải chỉ là một cái thùng rỗng kêu to, dẫu sao vẫn còn dễ nghe, nhưng người Huế ở đây lại có một ít chất xám cô đọng trong đó và chính sự cô đọng nầy đã tạo nên đôi hột sạn, nên khi phát biểu kêu len ken rất khó chịu. Nói tóm lại, người Huế với đầy Huế Tính là những người có nhiều tự hào về lối sống kiểu cách khuông mẫu mà họ đưa ra, và thường tự nguyện sống theo khuông mẫu ấy, mà vấn đề là những khuông mẫu đó cũng do những người cùng quan điểm và đầy cảm ái với họ, nghĩa là cũng kiểu cách rởm rơ như họ, cũng đầy Huế Tính như họ, nói chung là người nầy buộc người kia, người kia trói người nọ, tỷ như ông thầy giáo thì phải như vậy, cô giáo thì phải thế kia, con gái thì phải ỏng ẹo nết na thùy mị, đàn bà.v.v...... Kẻ nào chấp nhận và tự nguyện sống theo thói màu mè kiểu cách khuông mẫu đó thì được ném cho một cái nhìn đúng mức, đúng khuông mẫu của cái xã hội mệnh danh lễ nghi cung cách Huế Tính, nói cách khác là được ngưòi khác kính trọng. Ngược lại những ai phá rào làm cách mạng thoát ra ngoài khuông mẫu đó thì bị cho là hư đốn xấu xa thát loạn đợt sống mới, nào là sai phạm thuần phong mỹ tục không có được cung cách tiêu chuẩn của người tốt. CÒN TIẾP (Come Back FULL HOME PAGE) .............................................................................................................................................................................................................................................
|